INNETCO HOÀNG PHÚC

Báo cáo viên – LS. Lê Xuân Trường

Địa điểm diễn ra buổi tập huấn: Huyện Nam Đông - Tỉnh Thừa Thiên Huế

Địa điểm diễn ra buổi tập huấn: Huyện Nam Đông – Tỉnh Thừa Thiên Huế

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và cạnh tranh toàn cầu, việc xây dựng thương hiệu của các doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết và quan trọng. Một trong các yếu tố không thể thiếu để làm nên thương hiệu của một doanh nghiệp chính là nhãn hiệu.

Vậy, nhãn hiệu là gì? Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.

Và để nhãn hiệu được bảo hộ thì phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

  1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;
  2. Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác.

Ví dụ: 

Ai có quyền được đăng ký nhãn hiệu ? Quyền đăng ký nhãn nhiệu gồm những ai:

  1. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.
  2. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó.
  3. Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó.
  4. Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hoá, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đó.
  5. Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây:
  6. a) Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh;
  7. b) Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ.
  8. Người có quyền đăng ký quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này, kể cả người đã nộp đơn đăng ký có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều kiện các tổ chức, cá nhân được chuyển giao phải đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng.
  9. Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên thì người đại diện hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng.

Với quy định về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ có thể hiểu rằng, khi chủ sở hữu đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho hàng hóa, dịch vụ của mình, họ sẽ được luật pháp công nhận và được bảo vệ về mặt pháp lý. Theo đó, họ có toàn quyền thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển danh tiếng của mình trên thị trường.

Ông Nguyễn Hùng - Nguyên Trường phòng Quản lý - Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế tại buổi tập huấn

Ông Nguyễn Hùng – Nguyên Trưởng phòng Quản lý – Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế tại buổi tập huấn

QUYỀN CỦA CHỦ SỞ HỮU NHÃN HIỆU KHI ĐƯỢC BẢO HỘ

– Doanh nghiệp có quyền sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ để gắn lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh, lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo hộ, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.

– Ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu thuộc sở hữu của mình.

– Cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu thuộc sở hữu của mình.

– Có quyền chuyển nhượng, thừa kế nhãn hiệu được bảo hộ cho tổ chức, cá nhân khác.

– Quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được bảo hộ.

Ông Phạm Tấn Sơn - Trưởng phòng Kinh tế & Hạ tầng huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế tại buổi tập huấn

Ông Phạm Tấn Sơn – Trưởng phòng Kinh tế & Hạ tầng huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế tại buổi tập huấn

LỢI ÍCH CỦA VIỆC ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU

  1. Được pháp luật bảo vệ

Chức năng chủ yếu của việc đăng ký nhãn hiệu là để đảm bảo sự bảo vệ hợp pháp đối với công việc kinh doanh. Đăng ký nhãn hiệu giúp hỗ trợ phát triển nền tảng cho một doanh nghiệp và đối thủ không thể dùng nhãn hiệu để tạo nên sự nhầm lẫn về sản phẩm, dịch vụ hoặc lợi nhuận từ nhãn hiệu của mình. Doanh nghiệp có quyền khởi kiện những hành vi xâm phạm đối với nhãn hiệu được bảo hộ và được bồi thường xứng đáng.

  1. Doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, dịch vụ của mình

Nhãn hiệu là một phương tiện dùng để quảng cáo, vì vậy khi đã được bảo hộ thì việc sử dụng trong các chiến dịch quảng cáo và tiếp thị, tạo sự công nhận của khách hàng đối với nhãn hiệu sẽ không bị lãng phí tiền của và công sức. Mục đích của doanh nghiệp là thiết lập một công việc kinh doanh luôn luôn sáng tạo và đổi mới, luôn đáp ứng những nhu cầu của khách hàng. Những doanh nghiệp thành công có thể đạt được sự nhận dạng thương hiệu một cách hoàn hảo như thương hiệu của COCA COLA, HONDA, Microsoft, Viettel, FPT, TRUNG NGUYÊN ….

  1. Tránh khả năng nhầm lẫn

Việc đăng ký nhãn hiệu tránh gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, bởi vì khách hàng sử dụng sản phẩm đã đăng ký nhãn hiệu như logo, tên doanh nghiệp hay slogan để xác định doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm đó. Luật sở hữu trí tuệ sẽ ngăn chặn hành động này bằng việc từ chối đăng ký cho một khả năng gây nhầm lẫn. Nếu doanh nghiệp nào vẫn cố tình kinh doanh sản phẩm có khả năng gây nhầm lẫn thì có thể bị khởi kiện bồi thường thiệt hại tại cơ quan nhà nước có thầm quyền.

  1. Lợi ích của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trong hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp.

– Khi nhãn hiệu đã được pháp luật bảo hộ, chủ sở hữu được độc quyền sử dụng nhằm mục đích thương mại (gắn nhãn hiệu lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, dịch vụ, đưa vào lưu thông, xuất nhập khẩu sản phẩm mang nhãn hiệu hàng hóa đó) trong thời hạn bảo hộ 10 năm, có thể gia hạn liên tiếp không giới hạn số lần, bất kỳ người nào sử dụng nhãn hiệu đó mà không được phép của chủ sở hữu sẽ bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu và sẽ bị xử lý theo quy định.

– Một trong những lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường hiện nay là tên tuổi, thương hiệu của các doanh nghiệp. Do đó, cùng với việc tạo dựng hình ảnh thương hiệu thì việc đăng ký bảo hộ Nhãn hiệu của các Doanh nghiệp là một vấn đề vô cùng cần thiết. Việc đăng ký bảo hộ Nhãn hiệu cho Doanh nghiệp không những thúc đầy hoạt động quảng bá thương hiệu của Doanh nghiệp, tạo sự tin tưởng trong quan hệ với người tiêu dùng và các đối tác mà Doanh nghiệp còn có căn cứ pháp lý bảo vệ cho quyền lợi của mình trước những hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu đó.

– Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu là hết sức cần thiết. Bởi nó là cơ sở để tổ chức, cá nhân sử dụng nhãn hiệu thuộc quyền sở hữu của mình. Trên cơ sở được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, chủ sở hữu có thể khai thác được lợi ích thương mại từ nhãn hiệu của mình như: sử dụng nhãn hiệu gắn liền với sản phẩm, dịch vụ của mình; chuyển giao quyền sử dụng, quyền sở hữu nhãn hiệu… Đồng thời, nó còn là căn cứ để chống lại những hành vi xâm phạm tới quyền sử dụng nhãn hiệu.

– Đăng ký xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu là quyết định đúng đắn để xây dựng và phát triển bền vững mỗi doanh nghiệp. Đăng ký nhãn hiệu là thủ tục hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành có ý nghĩa thừa nhận quyền sở hữu đối với nhãn hiệu. Nếu nhãn hiệu không được đăng ký, điều này sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân khác đánh cắp sử dụng để hưởng lợi. Khi đó, mọi sự vi phạm, tranh chấp nhãn hiệu sẽ không có căn cứ để các cơ quan chức năng giải quyết.

– Để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra đối với sản phẩm, hàng hóa của mình doanh nghiệp cần đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho sản phẩm, dịch vụ do mình cung cấp. Đồng thời theo dõi, phát hiện kịp thời và báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của mình.

– Nhãn hiệu hàng hóa tạo ra giá trị cho sản phẩm, khách hàng sẽ rất sẵn lòng trả giá cao hơn để được sử dụng sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu mà họ yêu thích. Đồng thời, họ cũng sẵn sàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó thường xuyên hơn, vì vậy, giá trị mang lại cho doanh nghiệp sẽ cao hơn. Chính vì thế, việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là việc làm nhằm tạo ra sự khác biệt giữa sản phẩm, dịch vụ của mình với những sản phẩm, dịch vụ cùng loại khác và đây cũng chính là một trong những phương pháp nâng cao giá trị sản phẩm và giá trị của doanh nghiệp.

– Thúc đẩy sáng tạo và đổi mới kỹ thuật sản  xuất, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Để đạt được lợi ích kinh doanh, nhà sản xuất phải không ngừng cải tiến mẫu mã, nâng cao năng suất, củng cố chất lượng nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của những người tiêu dùng thông minh và khó tính. Và như vậy, nhãn hiệu hàng hóa trở thành động lực thúc đẩy sản xuất, tạo nên uy tín và sự phát triển của các nhà kinh doanh.

– Đăng ký nhãn hiệu là góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng.
Với người tiêu dùng, nhãn hiệu hàng hóa có vai trò vô cùng quan trọng do nhịp sống sôi động và bận bịu, với vô vàn các mặt hàng, dịch vụ luôn đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng thì việc bỏ thời gian lựa chọn loại sản phẩm yêu thích và thiết yếu gặp rất nhiều khó khăn. Người tiêu dùng chủ yếu đưa ra quyết định lựa chọn dựa trên kinh nghiệm tiêu dùng, cụ thể chính là sự hiểu biết và tin tưởng của họ về các nhãn hiệu hàng hóa khác nhau của cùng một loại hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, người tiêu dùng khó có thể phân biệt được các hàng hóa mang nhãn hiệu thật với những sản phẩm làm nhái, làm giả đầy tinh vi như hiện nay. Việc mua nhầm xảy ra thường xuyên hơn và hậu quả là không thể lường được. Khi đó, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ người tiêu dùng. Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa góp phần đẩy lùi tệ nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, giúp người tiêu dùng thoát khỏi tâm lý hoang mang, lo sợ khi lựa chọn sản phẩm tiêu dùng.

Bên cạnh đó, do phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay mới chỉ quan tâm tới việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trong nước, mà chưa chú ý tới đăng ký ở nước ngoài. Vì vậy, không ít thương hiệu lớn của các doanh nghiệp Việt Nam đã bị các công ty của nước ngoài đăng ký bảo hộ tại nước ngoài như: kẹo dừa Bến Tre năm 1998 ở Trung Quốc, Cà phê Trung Nguyên năm 2000 ở Mỹ, thuốc lá Vinataba 2001 ở Indonesia, cà phê BUON MA THUOT và nước mắm Phú Quốc năm 2010 ……ở Trung Quốc.

Chính vì vậy, Các doanh nghiệp cần chú trọng và đầu tư hơn nữa cho vấn đề xây dựng và bảo vệ thương hiệu của doanh nghiệp mình. Nhất là đăng ký bảo hộ tại nước ngoài (những nước xuất khẩu và tiềm năng xuất khẩu của doanh nghiệp mình) vì việc này rất có ý nghĩa và cần thiết.

Luật sư Lê Xuân Trường tại lớp tập huấn về SHTT_NHCN Nông sản Nam Đông - Ảnh tư liệu

Luật sư Lê Xuân Trường tại lớp tập huấn về SHTT_NHCN Nông sản Nam Đông – Ảnh tư liệu

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU

1. Đơn đăng ký nhãn hiệu phải có các tài liệu tối thiểu

Cục Sở hữu trí tuệ chỉ tiếp nhận đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (sau đây gọi là “đơn”) nếu khi được nộp, đơn có ít nhất các loại tài liệu quy định tại các điểm a, b và e khoản 1 Điều 100, khoản 1 Điều 108 của Luật Sở hữu trí tuệ và quy định cụ thể sau đây:
a) Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu, các tài liệu bắt buộc phải có để đơn được tiếp nhận gồm:
(i) Tờ khai đăng ký;
(ii) Tài liệu, mẫu vật, thông tin thể hiện đối tượng sở hữu công nghiệp được
đăng ký;
Cụ thể: đối với đơn đăng ký nhãn hiệu là mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng
hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu (phải có trong tờ khai);

(iii) Bản sao chứng từ nộp phí, lệ phí (trường hợp nộp phí, lệ phí qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp trực tiếp vào tài khoản của Cục Sở hữu trí tuệ).
Nếu thiếu một trong các tài liệu nói trên, Cục Sở hữu trí tuệ có quyền từ chối

tiếp nhận đơn.
b) Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, ngoài các tài
liệu quy định trên đây, đơn còn bắt buộc phải có thêm các tài liệu sau
đây:
(i) Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận;

(ii) Bản thuyết minh về tính chất, chất lượng đặc trưng (hoặc đặc thù) của sản
phẩm mang nhãn hiệu (nếu nhãn hiệu được đăng ký là nhãn hiệu tập thể dùng cho sản phẩm có tính chất đặc thù hoặc là nhãn hiệu chứng nhận chất lượng của sản phẩm hoặc là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý);
(iii) Bản đồ khu vực địa lý (nếu nhãn hiệu đăng ký là nhãn hiệu chứng nhận
nguồn gốc địa lý của sản phẩm, hoặc nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận có chứa địa danh hoặc dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý của đặc sản địa phương);
(iv) Văn bản của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
cho phép sử dụng địa danh hoặc dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý cho đặc sản địa phương để đăng ký nhãn hiệu theo quy định (nếu
nhãn hiệu đăng ký là nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận có chứa địa danh
hoặc dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý của đặc sản địa phương).

2. Yêu cầu đối với đơn

a) Đơn phải đáp ứng các yêu cầu chung theo quy định tại Điều 100 và Điều 101 của Luật Sở hữu trí tuệ và các yêu cầu riêng đối với từng loại đối tượng sở hữu công nghiệp .

b) Để bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật trong quá trình xử lý, đơn còn phải đáp
ứng các yêu cầu về hình thức sau đây:
(i) Mỗi đơn chỉ được yêu cầu cấp một văn bằng bảo hộ và loại văn bằng bảo
hộ được yêu cầu cấp phải phù hợp với đối tượng sở hữu công nghiệp nêu trong
đơn;
(ii) Mọi tài liệu của đơn đều phải được làm bằng tiếng Việt, trừ các tài liệu có thể được làm bằng ngôn ngữ khác theo quy định

(iii)  Mọi tài liệu của đơn đều phải được trình bày theo chiều dọc (riêng hình
vẽ, sơ đồ và bảng biểu có thể được trình bày theo chiều ngang) trên một mặt giấy khổ A4 (210mm x 297mm), riêng đối với tài liệu là bản đồ khu vực địa lý có thể được trình bày trên mặt giấy khổ A3 (420mm x 297mm), trong đó có chừa lề theo bốn phía, mỗi lề rộng 20mm, theo phông chữ Times New Roman, chữ không nhỏ hơn cỡ 13, trừ các tài liệu bổ trợ mà nguồn gốc tài liệu đó không nhằm để đưa vào đơn;
(iv) Đối với tài liệu cần lập theo mẫu thì bắt buộc phải sử dụng các mẫu đó và
điền đầy đủ các thông tin theo yêu cầu vào những chỗ thích hợp;
(v) Mỗi loại tài liệu nếu bao gồm nhiều trang thì mỗi trang phải ghi số thứ tự
trang đó bằng chữ số Ả-rập;
(vi) Tài liệu phải được đánh máy hoặc in bằng loại mực khó phai mờ, một
cách rõ ràng, sạch sẽ, không tẩy xoá, không sửa chữa; trường hợp phát hiện có sai sót không đáng kể thuộc về lỗi chính tả trong tài liệu đã nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ thì người nộp đơn có thể sửa chữa các lỗi đó, nhưng tại chỗ bị sửa chữa phải có chữ ký xác nhận (và đóng dấu, nếu có) của người nộp đơn;
(vii) Thuật ngữ dùng trong đơn phải thống nhất và là thuật ngữ phổ thông
(không dùng tiếng địa phương, từ hiếm, từ tự tạo). Ký hiệu, đơn vị đo lường, phông chữ điện tử, quy tắc chính tả dùng trong đơn phải theo tiêu chuẩn Việt Nam;
(viii) Đơn có thể kèm theo tài liệu bổ trợ là vật mang dữ liệu điện tử của một
phần hoặc toàn bộ nội dung tài liệu đơn.
c) Đơn phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu về số lượng bản tài liệu, mẫu, bản vẽ, ảnh
chụp và yêu cầu cụ thể đối với từng loại đơn tương ứng.

d) Tờ khai và tài liệu khác của đơn phải bảo đảm có đầy đủ các thông tin bắt buộc và thống nhất; bản dịch tiếng Việt của tài liệu đơn phải phù hợp với bản gốc; giấy ủy quyền phải bao hàm các nội dung quy định (Tên, địa chỉ của người ủy quyền và nội dung, phạm vi ủy quyền).
e) Đối tượng nêu trong đơn phải được phân loại chính xác theo phân loại quốc tế. Nếu người nộp đơn không tự phân loại hoặc phân loại không chính xác thì Cục Sở hữu trí tuệ sẽ thực hiện việc này và người nộp đơn phải nộp phí phân loại quốc tế theo quy định.
g) Đối với các tài liệu yêu cầu phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền
(cơ quan đã nhận đơn đầu tiên, công chứng, uỷ ban nhân dân…) thì phải có con dấu xác nhận của cơ quan đó.

3. Thời hạn

a. Các thời hạn quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ, Nghị định số 103/2006/NĐ-CP và trong Thông tư số 16/2016/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 được tính theo quy định về thời hạn của Bộ luật Dân sự.
b. Thời hạn dành cho người nộp đơn và bên liên quan tiến hành việc nộp, sửa
đổi, bổ sung tài liệu hoặc có ý kiến có thể được gia hạn một lần bằng đúng thời hạn đã được ấn định trong thông báo của Cục Sở hữu trí tuệ, với điều kiện người yêu cầu gia hạn phải nộp văn bản yêu cầu gia hạn trước ngày kết thúc thời hạn ấn định và nộp lệ phí yêu cầu gia hạn theo quy định.
c. Khi kết thúc thời hạn đã ấn định (kể cả thời gian gia hạn theo quy định tại
điểm này) mà người nộp đơn không tiến hành sửa đổi, bổ sung tài liệu hoặc khôngcó ý kiến phản hồi, Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định từ chối đối với mỗi thủ tục tương ứng và người nộp đơn không được quyền sửa đổi, bổ sung tài liệu hoặc có ý kiến, trừ trường hợp quy định tại điểm dưới đây.
d. Không tính vào thời hạn khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan làm cho tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ không thể hực hiện được quyền, nghĩa vụ của mình trong phạm vi thời hạn nếu tổ chức, cá nhân đó có yêu cầu và có chứng cứ xác đáng chứng minh tình trạng đó. Trường hợp yêu cầu được chấp nhận, Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định, thông báo thu hồi quyết định, thông báo đã ban hành với lý do tổ chức, cá nhân không thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng thời hạn và khôi phục quá trình xử lý đơn trở về tình trạng như chưa kết thúc thời hạn.
đ. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể
lường trước được (ví dụ thiên tai, địch họa…) và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động (ví
dụ: ốm đau, đi công tác, học tập ở nơi xa…) làm cho người có quyền, nghĩa vụ
không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ của mình.
g. Người nộp đơn có thể yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ thực hiện thủ tục trước
thời hạn quy định khi có văn bản yêu cầu và phải nộp phí dịch vụ theo quy định
nếu yêu cầu được chấp nhận. Trường hợp Cục Sở hữu trí tuệ không chấp nhận yêu cầu đó thì phải thông báo cho người nộp đơn và nêu rõ lý do.

4. Mẫu tài liệu, mẫu văn bằng bảo hộ

1. Mẫu các tài liệu đơn được quy định trong các phụ lục của Thông tư này.
Người nộp đơn phải sử dụng các mẫu nói trên để lập các tài liệu của đơn khi tiến hành các thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp.
2. Mẫu các loại văn bằng bảo hộ được quy định trong các phụ lục của
Thông tư này. Cục Sở hữu trí tuệ có trách nhiệm lưu mẫu văn bằng bảo hộ đã được ban hành để kiểm tra tính hợp pháp của các văn bằng bảo hộ được sử dụng. Việc thay đổi mẫu văn bằng bảo hộ chỉ được thực hiện trên cơ sở quyết định của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

5. Các thủ tục chung

Tất cả các loại đơn đăng ký sở hữu công nghiệp đều được Cục Sở hữu trí tuệ
xử lý theo trình tự sau đây: tiếp nhận đơn; thẩm định hình thức đơn; công bố đơn hợp lệ; thẩm định nội dung đơn (trừ đơn đăng ký thiết kế bố trí không tiến hành thủ tục thẩm định nội dung đơn); cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ; đăng bạ và công bố quyết định cấp văn bằng bảo hộ. Riêng đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định Việt Nam, trình tự thủ tục xử lý được quy định tại điểm 41.6 của Thông tư này.

6. Nộp và tiếp nhận đơn

1. Đơn có thể được nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ hoặc tại các địa điểm tiếp
nhận đơn khác do Cục Sở hữu trí tuệ thiết lập. Đơn cũng có thể được gửi qua bưu điện tới các địa điểm tiếp nhận đơn nói trên. Cục Sở hữu trí tuệ không gửi trả lại các tài liệu đã nộp (trừ bản gốc tài liệu nộp để kiểm tra khi đối chiếu với bản sao).
2. Khi nhận được đơn, Cục Sở hữu trí tuệ kiểm tra tài liệu đơn và đối chiếu
với danh mục tài liệu ghi trong tờ khai để kết luận có tiếp nhận đơn hay không:
a) Trường hợp đơn có đủ các tài liệu tối thiểu quy định thì cán bộ nhận đơn tiếp nhận đơn, đóng dấu xác nhận ngày nộp đơn, số đơnvào các tờ khai;
b) Trường hợp đơn thiếu một trong các tài liệu tối thiểu theo quy định thì cán bộ nhận đơn từ chối tiếp nhận đơn hoặc gửi thông báo của Cục Sở hữu trí tuệ từ chối tiếp nhận đơn cho người nộp đơn (nếu đơn nộp qua bưu điện). Đối với đơn bị từ chối tiếp nhận, Cục Sở hữu trí tuệ không phải gửi trả lại cho người nộp đơn các tài liệu đơn, nhưng phải hoàn trả các khoản phí, lệ phí đã nộp theo thủ tục hoàn trả phí, lệ phí theo quy định;
c) Trường hợp đơn được tiếp nhận, Cục Sở hữu trí tuệ trao (gửi) một bản tờ
khai cho người nộp đơn trong đó có đóng dấu xác nhận ngày nộp đơn, số đơn và
kết quả kiểm tra danh mục tài liệu đơn có ghi rõ họ tên, chữ ký của cán bộ nhận
đơn. Tờ khai được trao (gửi) lại nói trên có giá trị thay giấy biên nhận đơn.

Bất cứ một Doanh nghiệp nào muốn kinh doanh thành công các sản phẩm, dịch vụ của mình đều cần phải nhận thức được rằng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ cho riêng mình là điều rất quan trọng. Cùng với sự phát triển và vững mạnh của nhãn hiệu thì hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp cũng sẽ vững chắc hơn bao giờ hết.

Xin trân trọng cảm ơn các Quý vị đã lắng nghe!

   Nam Đông, ngày 18 tháng 12 năm 2020

Luật sư: Lê Xuân Trường

Luật sư: Lê Xuân Trường

EnglishVietnamese