ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU CHO TÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1. Khái quát về nhãn hiệu – đối tượng của quyền SHTT

Theo Điều 3. Luật SHTT về  Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

  1. Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.
  2. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
  3. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch.

Điều 4.16 Luật SHTT định nghĩa “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” và Điều 72.1 cũng lưu ý “Nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa”. 

Nếu nhãn hiệu tồn tại ở dạng các chữ cái thì tập hợp các chữ cái này phải phát âm được, có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa (trong trường hợp có nghĩa thì nghĩa của nó không đi ngược lại các quy phạm đạo đức). Bởi vậy, nhãn hiệu của một trường đại học có thể mang chính tên của trường đó và cũng có thể không cần phải mang tên trường đó.

Tên trường đại học và nhãn hiệu của trường đại học là các đối tượng khác nhau. Quyền đối với tên trường đại học tự động phát sinh kể từ thời điểm quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập trường đại học có hiệu lực pháp luật. Nhưng quyền đối với nhãn hiệu thì không tự động phát sinh, nó chỉ phát sinh với 2 điều kiện:

  • Trường đại học có đăng ký bảo hộ nhãn hiệu;
  • Được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.

Mặt khác, theo nguyên tắc bảo hộ độc lập do Công ước Paris (Việt Nam là thành viên của Công ước này từ 08.3.1949) về bảo hộ sở hữu công nghiệp quy định, nếu quốc gia nào cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu thì chỉ có hiệu lực bảo hộ trên chính lãnh thổ quốc gia đó, có nghĩa là nhãn hiệu do Cục SHTT Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ thì nó chỉ có hiệu lực bảo hộ trên lãnh thổ Việt Nam. Hay nói cách khác, nếu trường đại học định mở cơ sở của mình ở nước ngoài thì họ bắt buộc phải đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại chính quốc gia đó.

Điểm cần lưu ý nữa là việc đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài không phát sinh trên cơ sở tên trường đại học, mà theo quy định của Công ước Paris, Thỏa ước Madrid nó phải dựa trên cơ sở nhãn hiệu do quốc gia xuất xứ cấp hoặc theo quy định của Nghị định thư Madrid nó phải dựa trên cơ sở đơn yêu cầu quốc gia xuất xứ bảo hộ nhãn hiệu. Như vậy, các trường đại học chắc chắn sẽ gặp khó khăn khi không sở hữu hợp pháp nhãn hiệu (mặc dù được sở hữu hợp pháp tên gọi trường đại học).

Trong xu hướng xã hội hóa giáo dục hiện nay, các trường Đại học, Cao đẳng đều nhận thức được rằng việc xây dựng và khẳng định nhãn hiệu của trường học trong lĩnh vực đào tạo và giáo dục là một nhu cầu cần thiết, bởi nhãn hiệu góp phần quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một nhà trường. Xây dựng nhãn hiệu cũng là cách để nhà trường giới thiệu mình với người học, với các doanh nghiệp, làm cho người học biết, lựa chọn và sử dụng dịch vụ đào tạo do nhà trường cung cấp; giúp doanh nghiệp có sự tin cậy ñể liên kết, hợp tác ñào tạo và sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo từ nhà trường. Nhãn hiệu là công cụ bảo vệ lợi ích của mọi tổ chức nói chung và của nhà trường nói riêng. Khi nhãn hiệu đã được đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ với nhà nước thì chính nó đã trở thành một thứ tài sản vô giá. Việc sở hữu hợp pháp một nhãn hiệu cho phép nhà trường được độc quyền khai thác những lợi ích do nhãn hiệu đó mang lại.

2. Phân nhóm đăng ký nhãn hiệu cho trường học

Tùy nhóm ngành đào tạo và lĩnh vực đào và các hoạt động đi kèm mà các trường Đại học, Cao đẳng có thể lựa chọn nhóm nhãn hiệu để đăng ký cho nhãn hiệu của mình, tuy nhiên nhóm chủ lực của các trường nên đăng ký là nhóm 41 và 42. Theo đó, các trường có thể tham khảo các nhóm cần đăng ký như sau:

Nhóm 09: Thiết bị giảng dạy; thiết bị nghe nhìn dùng cho giảng dạy; xuất bản phẩm điện tử trực tuyến, tải xuống được; phần cứng máy tính; phần mềm máy vi tính đã được ghi; điện thoại thông minh; kính đeo mắt.

Nhóm 16: Sách; tạp chí [định kỳ]; sổ tay; xuất bản phẩm dạng in; lịch; phiếu; thẻ; danh thiếp; catalô; phong bì [văn phòng phẩm]; thiếp chúc mừng; áp phích quảng cáo; tranh in khắc; mẫu tờ khai, in sẵn; vật liệu để đóng sách; văn phòng phẩm; đồ dùng giảng dạy [trừ thiết bị giảng dạy]; bút [đồ dùng văn phòng]; giấy; tranh ảnh; bưu thiếp; ấn phẩm; dụng cụ viết; vật liệu dùng để viết.

Nhóm 18: Cặp đựng giấy tờ, tài liệu; cặp đựng tài liệu dùng cho hội nghị; ba lô; túi xách tay; ví nam; ví nữ; vali du lịch; ô; túi sách học viên; cặp học viên; ví đựng danh thiếp.

Nhóm 25: Quần áo; đồ đi chân; giày; dép; mũ; nón; đồ đội đầu; trang phục dùng trong các lễ hội hoá trang; trang phục dùng trong lễ tốt nghiệp của sinh viên; ca vát; đồng phục; khăn choàng; khăn quàng cổ; thắt lưng [trang phục].

Nhóm 35: Quảng cáo; hỗ trợ quản lý kinh doanh; tư vấn quản lý kinh doanh; tư vấn tổ chức và điều hành kinh doanh; đánh giá kinh doanh; hoạt động văn phòng; xử lý văn bản; tư vấn quản lý nhân sự; nghiên cứu thị trường; đàm phán hợp đồng kinh doanh cho người khác; đàm phán và ký kết giao dịch thương mại cho bên thứ ba; thăm dò dư luận; quan hệ công chúng; tuyển dụng nhân sự; dịch vụ sao chụp; cho thuê máy và thiết bị văn phòng (không gồm điện thoại và máy fax); dịch vụ thư ký; biên tập số liệu thống kê.

Nhóm 41: Giáo dục; đào tạo; giải trí; tổ chức các hoạt động thể thao và văn hoá; giảng dạy; trường đào tạo [giáo dục]; học viện [giáo dục]; khảo thí giáo dục; dịch vụ hướng dẫn, giảng dạy; tổ chức các cuộc thi [giáo dục và giải trí]; cung cấp thông tin trong lĩnh vực giáo dục; xuất bản sách; xuất bản văn bản [không bao gồm những bài quảng cáo]; tổ chức và điều hành hội thảo; tổ chức triển lãm cho mục đích văn hoá hoặc giáo dục; cung cấp xuất bản phẩm điện tử trực tuyến, không tải xuống được; dịch vụ câu lạc bộ sức khoẻ.

Nhóm 42: Nghiên cứu khoa học; kiểm soát chất lượng; dịch vụ tư vấn công nghệ thông tin; dịch vụ phòng thí nghiệm khoa học; cho thuê máy tính; cho thuê phần mềm máy tính.

Nhóm 43: Cho thuê chỗ ở tạm thời; dịch vụ nhà trọ; dịch vụ quán ăn tự phục vụ; dịch vụ căng tin; dịch vụ nhà hàng ăn uống; dịch vụ khách sạn; cho thuê phòng họp.

3. Vụ tranh chấp nhãn hiệu đầu tiên

Ngày 07.08.2010, Trường ĐH Đông Á (Đà Nẵng) đã gửi đơn khiếu nại lên Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) vì cho rằng Trường ĐH Công nghệ Đông Á (Bắc Ninh) đã vi phạm quyền sở hữu nhãn hiệu “Đại học Đông Á” do Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) là chủ sở hữu. Trước đó, vào tháng 7-2010, Trường ĐH Công nghệ Đông Á (thành lập năm 2008) phải tạm dừng tuyển sinh theo quyết định của Bộ GD-ĐT (do vi phạm quy chế tổ chức và hoạt động của trường ĐH tư thục), khiến trường “trùng tên” phải xử lý thông tin hiểu lầm từ nhiều phụ huynh, sinh viên và các đối tác. Đại diện của Trường ĐH Đông Á cho biết có thể kiện Trường ĐH Công nghệ Đông Á về hành vi vi phạm tên, nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ ở Cục SHTT Việt Nam. Đây có lẽ là vụ tranh chấp quyền SHTT đầu tiên giữa các trường ĐH ở Việt Nam.

Hai trường đại học này có tên gọi tương tự nhau, trong đó các từ “Trường”, “Đại học”, “Công nghệ”, “ Đông Á” không có khả năng phân biệt, bởi vậy không được bảo hộ riêng rẽ với tư cách là nhãn hiệu, mà chỉ có thể được bảo hộ tổng thể.

115620

146314

Như trên đã phân tích, quyền đối với tên 2 trường đại học này được tự động phát sinh tại thời điểm quyết định cho phép thành lập trường đại học có hiệu lực pháp luật. Nhưng chỉ có Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) là đăng ký với Cục SHTT yêu cầu được bảo hộ nhãn hiệu và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “Đại học Đông Á” số 115620 và 146314.

  • Trường Đại học Công Nghệ Đông Á (Bắc Ninh) được thành lập theo quyết định số 1777/QĐ-TTg ngày 09/12/2008 của Thủ tướng Chính Phủ và có cơ sở chính đặt tại làng Đại học Thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
  • Trường Đại học Đông Á (Đà Nẵng) khi còn là Trường Cao đẳng Đông Á đã nộp đơn xin đăng ký nhãn hiệu vào năm 2005, được Cục SHTT cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu 115620 ngày 8/12/2008 và 146314 ngày 11/05/2010.

Như vậy, có hay không xung đột pháp lý giữa Quyết định số 1777/QĐ-TTg ngày 09/12/2008 của Thủ tướng Chính Phủ với Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu do Cục SHTT cấp ngày 08/12/2008? Một phần nguyên nhân cho việc tranh chấp và khả năng xảy ra tranh chấp nhãn hiệu giữa các trường đại học thuộc về quy định pháp luật cho hoạt động của hệ thống quản lý và thực thi quyền SHTT, khi mà quyền quản lý tên thương mại và nhãn hiệu lại thuộc về các cơ quan khác nhau, sự phối hợp giữa các cơ quan này không có sự đồng bộ. Cụ thể, cơ quan đăng ký kinh doanh thuộc sở kế hoạch và đầu tư còn cơ quan đăng ký cấp văn bằng bảo hộ của cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ. Chính vì vậy với một số lượng lớn doanh nghiệp được thành lập hiện nay, việc doanh nghiệp đặt tên trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu, tên thương mại của doanh nghiệp khác là điều khó tránh khỏi.

CHÚNG TÔI LUÔN TƯ VẤN TẬN TÂM, TẬN TÌNH, CHU ĐÁO BẰNG SỰ CHÂN THÀNH NHẤT cho việc đăng ký xác lập và xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cũng như đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ khác, xin hãy lên hệ với chúng tôi:

CÔNG TY INNETCO – HOÀNG PHÚC

Số 50, ngõ 210 phố Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, TP. Hà Nội

ĐT: 0963 595 787; E-mai: info@innetcoip.com;Website: innetcoip.com

Chúng tôi hi vọng sẽ có cơ hội hợp tác và làm hài lòng các yêu cầu của bạn với phương châm “Khách hàng là Người nhà!”.

Trân trọng!

Ths. Vũ Hạnh Hoa

Trả lời