MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ SỬA ĐỔI NĂM 2022 TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ VI PHẠM TẠI VIỆT NAM
So với các lần sửa đổi, bổ sung trước đó vào năm 2009 và năm 2019, lần sửa đổi, bổ sung thứ ba này được đánh giá là toàn diện nhất từ trước đến nay, tạo nên một dấu mốc quan trọng mới trong quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách, quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ kể từ khi Luật sở hữu trí tuệ được ban hành năm 2005.
Bên cạnh việc cải thiện các quy định về quyền tác giả, quyền bảo hộ sở hữu công nghiệp,…Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2002 cũng có nhiều nội dung mới có liên quan trực tiếp đến hoạt động công vụ của lực lượng Quản lý thị trường trong việc thực thi, xử lý vi phạm tại Việt Nam.
1. Khái niệm Nhãn hiệu
Theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022, nhãn hiệu“là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ, kểcả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặcnhiều màu sắc; hoặc dấu hiệu âm thanh thể hiện được dưới dạng đồ họa”. Dấu hiệu âm thanh có thể được bảo hộ với điều kiện phải thể hiện được dưới dạng đồ họa. Tuy nhiên, nội dung này chưa được hướng dẫn cụ thể (ví dụ như trên khuông nhạc hoặc hình ảnh sóng âm thanh).

2. Nhãn hiệu liên kết
Bãi bỏ quy định về nhãn hiệu liên kết. Tuy nhiên, hiệu lực của các nhãn hiệu liên kết đã được cấp Giấy chứng nhận trước thời điểm 01/01/2023 không được quy định trực tiếp trong các điều khoản chuyển tiếp.
3. Nhãn hiệu nổi tiếng
Việc xác định một nhãn hiệu có phải là nhãn hiệu nổi tiếng hay không rất quan trọng trong việc xem xét, đánh giá yếu tố xâm phạm, hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳđược coi là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu (nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng).
Khái niệm về Nhãn hiệu nổi tiếng được sửa đổi từ “nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam” thành“nhãn hiệu được bộ phận công chúng có liên quan biết đến rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam”.Quy định mới đã thu hẹp phạm vi và đối tượng xem xét lấy ý kiến khi đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng.
Đồng thời, các tiêu chí để đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng cũng mang tính “thoáng” hơn, thay bằng quy định trước đây phải xem xét, đánh giá toàn bộ các tiêu chí tại Điều 75 Luật thì nay, là việc xem xét một, một số hoặc tất cả các tiêu chí.
Điều 75. Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng
Việc xem xét, đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng được lựa chọn từ một số hoặc tất cả các tiêu chí sau đây:
- Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
- Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;
- Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;
- Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
- Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu;
- Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
- Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
- Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.
4. Chỉ dẫn địa lý
Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 quy định về chỉ dẫn địa lý đồng âm:“là các chỉ dẫn địa lý có cách phát âm hoặc cách viết trùng nhau”.
Tuy nhiên, quy định này chỉ giới hạn ở chỉ dẫn địa lý (dựa trên thực tế tên riêng đơn vị hành chính hoặc khu vực tạo nên nguồn gốc địa lý của sản phẩm có thể trùng nhau về phát âm hoặc cách viết), không bao gồm nhãn hiệu.

5. Kiểu dáng công nghiệp
Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 đã mở rộngkhái niệm kiểu dáng công nghiệp“là hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặc bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp, được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này và nhìn thấy được trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm hoặc sản phẩm phức hợp”.
Chúng ta đều biết rằng đối với bộ phận của một sản phẩm nếu chia theo khả năng tách rời khỏi sản phẩm thì sẽ bao gồm hai loại: loại thứ nhất là có thể tách rời khỏi sản phẩm; loại thứ hai là không thể tách rời khỏi sản phẩm. Như vậy, đối với pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành thì chỉ bộ phận có thể tách rời khỏi sản phẩm mới có khả năng được bảo hộ dưới danh nghĩa một kiểu dáng công nghiệp; còn một bộ phận không thể tách rời khỏi sản phẩm thì không thể được bảo hộ dưới danh nghĩa một kiểu dáng công nghiệp.
Sản phẩm được hiểu là đồ vật, dụng cụ, thiết bị, phương tiện, hoặc bộ phận dùng để lắp ráp, hợp thành các sản phẩm đó, được sản xuất bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp, có kết cấu và chức năng rõ ràng, được lưu thông độc lập (Điểm 33.2.b Thông tư 01/2007/TT-BKHCN)
Như vậy, các bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp (ví dụ: chi tiết nhựa tạo hình cho xe máy…) cũng có thể là đối tượng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp miễn là bộ phận ấy có khả năng được lưu thông độc lập.
Điều 10.3 và Điều 10.4 trong Quy chế thẩm định đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 2381/QĐ-SHTT ngày 08/12/2009 của Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ đã quy định về việc đánh giá khả năng lưu thông độc lập của sản phẩm như sau:
“3. Khả năng lưu thông độc lập của sản phẩm được coi là đáp ứng nếu sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp thuộc một trong những trường hợp sau đây:
- b) Các bộ phận, chi tiết hợp thành sản phẩm hoàn chỉnh theo cách tháo rời ra được bằng cách liên kết cơ khí (lắp tháo ra được), hoặc liên kết bằng chất kết dính, khâu, hàn,… được sản xuất hàng loạt để có thể thay thế lẫn nhau. Đối tượng loại này bao gồm cả Nhãn sản phẩm, được hiểu là bộ phận sản phẩm dạng tấm mỏng, được trang trí bề mặt và dùng để dán hoặc gắn lên bề mặt của một sản phẩm khác nhằm tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh.
- Khả năng lưu thông độc lập của sản phẩm được coi là không đáp ứng nếu sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp là:
- a) Phần sản phẩm không thể tách rời khỏi sản phẩm hoặc chỉ có thể tách rời khỏi sản phẩm và không có phần tương tự để sản xuất để thay thế”.
6. Thuật ngữ “dụng ý xấu”.
Điều 96 và Điều 117 được bổ sung thêm thuật ngữ pháp lý “dụng ý xấu” nhằm khắc phục tình trạng “đầu cơ nhãn hiệu”, xu hướng đang gia tăng gần đây dựa trên quy định “nộp đơn đầu tiên”.
Điều 96. Hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ
- Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
- a) Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu;
Điều 117. Từ chối cấp văn bằng bảo hộ
- Đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong các trường hợp sau đây:
- b) Có cơ sở để khẳng định rằng người nộp đơn không có quyền đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc đăng ký nhãn hiệu với dụng ý xấu;
Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể phản đối hiệu lực của nhãn hiệu do bên thứ ba đã nộp đơn hoặc đăng ký trên cơ sở pháp lý quan trọng là không trung thực (dụng ý xấu) qua đó giành lại quyền sở hữu trí tuệ của mình theo thủ tục phản đối hoặc hủy bỏ nhãn hiệu. Đồng thời tạo thuận lợi cho công tác quản lý thị trường và cơ quan thực thi giải quyết các đơn yêu cầu xử lý xâm phạm về việc “đầu cơ nhãn hiệu” và sản xuất kinh doanh trung thực, ngay tình.

7. Điều kiện kinh doanh đại diện sở hữu công nghiệp
Điều 154 mở rộng hơn về mô hình tổ chức, cụ thể Luật đã thêm chủ thể hợp tác xã:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật có ít nhất một cá nhân có Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp với danh nghĩa tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
- Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam không được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.
Tuy nhiên, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam không được kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.Do đó, trong quá trình kiểm tra, xử lý vi phạm, cơ quan thực thi cần ưu tiên xác định tư cách chủ thể trước khi tiếp nhận thông tin và phối hợp.
8. Xử lý vi phạm
Trước đây, quy định chịu trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng với các cá nhân.Nhưng Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 đã bổ sung Điều 212 về Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự:“Cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

9. Hàng hóa giả mạo
Trước đây, hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa lý được gọi chung là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu. Tuy nhiên, Điều 213 đã tách biệt 2 trường hợp giả mạo là “hàng hóa giả mạo nhãn hiệu” và “hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý” và điều chỉnh cụ thể về từng trường hợp, đặc biệt là quy định về giả mạo chỉ dẫn địa lý.
- Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này bao gồm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý, hàng hóa sao chép lậu quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
- Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu hoặc dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với nhãn hiệu đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.
- Hàng hóa giả mạo chỉ dẫn địa lý là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn dấu hiệu hoặc tem, nhãn có chứa các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức khó phân biệt với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó và việc gắn dấu hiệu này được thực hiện bởi tổ chức, cá nhân không có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý theo quy định tại khoản 4 Điều 121 của Luật này hoặc theo pháp luật của nước xuất xứ của chỉ dẫn địa lý đó.
- Hàng hóa sao chép lậu là bản sao được sản xuất mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan.

10. Hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả
Điều 124 về Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả được chỉnh lý kỹ thuật theo hướng dẫn chiếu đến các quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính.
- Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều 211 của Luật này bị áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
- Ngoài các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và đáp ứng các điều kiện khác theo quy định của Chính phủ.
- Mức phạt, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
11. Chủ động áp dụng biện pháp kiểm soát tại biên giới.
Điều 216 bổ sung thêm thẩm quyền chủ động áp dụng biện pháp kiểm soát tại biên giới nếu trong quá trình kiểm tra, giám sát và kiểm soát cơ quan hải quan phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất, nhập khẩu là hàng giả mạo SHTT. Quy định này nhằm bảo đảm cơ chế thực thi và bảo vệ quyền SHTT được hiệu quả, hợp lý và khả thi hơn:
b) Cơ quan hải quan chủ động thực hiện nếu trong quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát và kiểm soát phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ.

Thông qua các quy định kiểm soát chống buôn lậu hàng giả, hàng hóa giả mạo và hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 vừa được ban hành, các Cơ quan có thẩm quyền cần đẩy mạnh điều tra, xác minh làm rõ từng hành vi vi phạm, tính chất, mức độ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, yếu tố chủ quan, khách quan, nguyên nhân, hậu quả, động cơ, mục đích của từng cá nhân, tổ chức có liên quan để xác định rõ hành vi vi phạm hành chính hay hình sựvà giải quyết đúng theo quy định pháp luật Việt Nam.
CHÚNG TÔI LUÔN TƯ VẤN TẬN TÂM, TẬN TÌNH, CHU ĐÁO BẰNG SỰ CHÂN THÀNH NHẤT cho việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu cũng như đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ khác, xin hãy lên hệ với chúng tôi:
CÔNG TY INNETCO – HOÀNG PHÚC
Số 50, ngõ 210 phố Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, TP. Hà Nội
ĐT: 0963 595 787; E-mai: info@innetcoip.com;Website: innetcoip.com
Chúng tôi hi vọng sẽ có cơ hội hợp tác và làm hài lòng các yêu cầu của bạn với phương châm “Khách hàng là Người nhà!”.
Trân trọng!
Ths. Vũ Hạnh Hoa
