Có hai phương thức phát sinh quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ: Một là tự động (thông qua tạo ra tác phẩm hoặc sử dụng không cần đăng ký), áp dụng đối với quyền tác giả, nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại, bí mật kinh doanh; Hai là xác lập quyền thông qua việc được cấp văn bằng bảo hộ đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu (không bao gồm nhãn hiệu nổi tiếng). Việc cấp văn bằng bảo hộ cần tuân thủ một số nguyên tắc của pháp luật về sở hữu trí tuệ; trong đó, nguyên tắc “First-to-file” (nộp đơn đầu tiên) là một nguyên tắc quan trọng và là cơ sở pháp lý vững chắc trong hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ của nhiều nước trên thế giới.

1. Tổng quan về các quy tắc trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Không ít trường hợp nhiều chủ đơn cùng nộp đơn đăng ký cho một đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc nhiều đối tượng tương tự nhau gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Trong trường hợp này, nguyên tắc “nộp hồ sơ đầu tiên” sẽ được áp dụng để quyết định đơn nào sẽ được cấp văn bằng bảo hộ. Theo nguyên tắc này, việc cấp văn bằng bảo hộ được thực hiện đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu có đơn đăng ký được nộp sớm nhất; và pháp luật chỉ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho cá nhân hoặc tổ chức nộp đơn đăng ký đầu tiên. Có thể hiểu là ai nộp đơn trước thì người đó có quyền.

Pháp luật chỉ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho cá nhân hoặc tổ chức nộp đơn đăng ký đầu tiên.

Một số quốc gia cũng áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên: Trung Quốc, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc, Đài Loan, Pháp, Đức, EU,…

2. Nội dung nguyên tắc nộp đơn đầu tiên theo pháp luật Việt Nam

Nguyên tắc đầu tiên áp dụng trong luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam bắt nguồn từ “nguyên tắc ưu tiên” trong Công ước Paris 1883 về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp mà Việt Nam là thành viên. Nguyên tắc này được áp dụng cho nhiều loại đối tượng sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu.

2.1. Đối với sáng chế và kiểu dáng công nghiệp

Theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên quy định tại Điều 90 của Luật Sở hữu trí tuệ:

“Điều 90. Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên

  1. Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng hoặc tương đương với nhau, các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể với nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.”

Có 03 yếu tố được xem xét khi áp dụng quy tắc này đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp.

Thứ nhất, nguyên tắc này áp dụng đối với sáng chế đang được coi là trùng hoặc tương tự hoặc kiểu dáng công nghiệp đang được coi là trùng hoặc khác biệt không đáng kể, có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.

Thứ hai, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên chỉ được áp dụng khi tất cả các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đang được xem xét đáp ứng các điều kiện để được bảo hộ. Như vậy trong hai sáng chế trùng hoặc tương tự, hoặc hai kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc khác biệt không đáng kể, nếu một sáng chế/kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn sớm hơn nhưng lại không đáp ứng được tiêu chuẩn bảo hộ, thì sáng chế/kiểu dáng công nghiệp nộp đơn sau nhưng đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ sẽ được cấp văn bằng.

Thứ ba, ngày ưu tiên cũng được áp dụng đối với Bằng sáng chế và kiểu dáng công nghiệp. Theo đó đơn nào có ngày nộp đơn sớm nhất hoặc ngày ưu tiên sớm nhất sẽ được cấp văn bằng.

2.2. Đối với nhãn hiệu

Theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên quy định tại Điều 90 của Luật Sở hữu trí tuệ:

“Điều 90. Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên

  1. Trong trường hợp có nhiều đơn của nhiều người khác nhau đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự với nhau hoặc trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho nhãn hiệu trong đơn hợp lệ có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trong số những đơn đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ.

Căn cứ Điều 90.2 Luật Sở hữu trí tuệ, có 04 yếu tố được xem xét khi áp dụng nguyên tắc này đối với nhãn hiệu.

Thứ nhất, yếu tố trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn. Việc đánh giá hai nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn được thực hiện dựa trên các yếu tố về cấu trúc, cách phát âm, ý nghĩa của nhãn hiệu và/hoặc hình thức thể hiện của tổng thể nhãn hiệu bao gồm cả phần chữ lẫn phần hình.

Thứ hai, nhãn hiệu phải được đăng ký cho các sản phẩm, dịch vụ trùng hoặc tương tự. Ở đây, sự trùng hoặc tương tự giữa các sản phẩm, dịch vụ được đánh giá theo các yếu tố về tính chất, mục đích sử dụng và kênh phân phối.

Thứ ba, nhãn hiệu được xem xét trước hết phải xuất phát từ đơn đăng ký hợp lệ. Quy tắc “nộp đơn đầu tiên” chỉ được áp dụng khi tất cả các nhãn hiệu đang được xem xét đều đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn bảo hộ.

Thứ tư, nếu một đơn đăng ký nhãn hiệu đã được nộp tại quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế quy định về quyền ưu tiên mà Việt Nam cũng là thành viên, hoặc có thỏa thuận áp dụng quy định đó tại Việt Nam, ngày ưu tiên này cũng được áp dụng như ngày nộp đơn.

Ngày ưu tiên cũng được áp dụng như ngày nộp đơn.

Lưu ý: Theo quy định tại khoản 3 Điều 90 của Luật Sở hữu trí tuệ, nếu có nhiều đơn (đăng ký cho sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu) có cùng ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên thì chỉ một đơn được chấp nhận bảo hộ theo sự nhất trí của tất cả những người nộp đơn. Như vậy, nếu giữa các bên không đạt được thỏa thuận, tất cả các đơn đăng ký cho đối tượng đó sẽ bị từ chối.

“2. Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cùng đáp ứng các điều kiện để được cấp văn bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ chỉ được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thoả thuận của tất cả những người nộp đơn; nếu không thoả thuận được thì các đối tượng tương ứng của các đơn đó bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.”

2.3. Đối với giống cây trồng

Tương tự như các đối tượng sở hữu trí tuệ nêu trên, khi áp dụng nguyên tắc “nộp đơn đầu tiên” cho giống cây trồng thì người nộp đơn sớm nhất sẽ được cấp Văn bằng bảo hộ.

“Điều 166. Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên đối với giống cây trồng

  1. Trường hợp có từ hai người trở lên độc lập nộp đơn đăng ký bảo hộ vào các ngày khác nhau cho cùng một giống cây trồng thì Bằng bảo hộ giống cây trồng chỉ có thể được cấp cho người đăng ký hợp lệ sớm nhất.”

Tuy nhiên trong trường hợp nhiều đơn đăng ký có cùng ngày nộp đơn, Khoản 2 Điều này quy định:

Trường hợp có nhiều đơn đăng ký bảo hộ cho cùng một giống cây trồng được nộp vào cùng một ngày thì Bằng bảo hộ giống cây trồng chỉ có thể được cấp cho người nào đứng tên nộp một đơn duy nhất theo sự thoả thuận của tất cả những người đăng ký; nếu những người đăng ký không thoả thuận được thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng sẽ xem xét để cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng trên cơ sở xác định người đầu tiên đã chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển giống cây trồng đó.

Như vậy, khác với quy định đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu tại khoản 3 Điều 90, trong trường hợp các bên nộp đơn trong cùng ngày không đạt được thỏa thuận thì cơ quan quản lý quyền đối với giống cây trồng có quyền lựa chọn ra một người/tổ chức được cấp văn bằng bảo hộ. Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ chịu trách nhiệm cấp giấy chứng nhận.

2.4. Đối với thiết kế, bố trí mạch tích hợp bán dẫn và chỉ dẫn địa lý

Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên đối với chỉ dẫn địa lý và thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.

Quy định này khá phù hợp với Công ước Paris và tình hình thực tế, vì quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước và các tổ chức chỉ được đăng ký Chỉ dẫn địa lý khi được Nhà nước cho phép. Tranh chấp trong việc đăng ký chỉ dẫn địa lý rất khó xảy ra. Đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, thực tế cho thấy rất ít trường hợp các đối tượng giống hệt nhau nộp đơn cho đối tượng này.

2.5. Mối quan hệ giữa nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và quy tắc ưu tiên

Trong trường hợp người nộp đơn sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu mong muốn mở rộng phạm vi bảo hộ sang các nước khác, họ có thể áp dụng nguyên tắc ưu tiên để nâng cao khả năng bảo vệ tài sản trí tuệ của mình.

Nguyên tắc ưu tiên được quy định tại Điều 4 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp và được quy định tại Điều 91 Luật Sở hữu trí tuệ:

“Điều 91. Nguyên tắc ưu tiên

Người nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đầu tiên đăng ký bảo hộ cùng một đối tượng nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên hoặc có thoả thuận áp dụng quy định như vậy với Việt Nam;

b) Người nộp đơn là công dân Việt Nam, công dân của nước khác quy định tại điểm a khoản này cư trú hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước khác quy định tại điểm a khoản này;

c) Trong đơn có nêu rõ yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên và có nộp bản sao đơn đầu tiên có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên;

d) Đơn được nộp trong thời hạn ấn định tại điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Trong một đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu, người nộp đơn có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở nhiều đơn khác nhau được nộp sớm hơn với điều kiện phải chỉ ra nội dung tương ứng giữa các đơn nộp sớm hơn ứng với nội dung trong đơn.

Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên có ngày ưu tiên là ngày nộp đơn của đơn đầu tiên.”

Như vậy, để được hưởng quyền ưu tiên tại Việt Nam hoặc tại các quốc gia là thành viên của Công ước Paris về sở hữu công nghiệp, người nộp đơn cần đáp ứng các điều kiện về quốc gia đăng ký, địa chỉ cư trú hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh, tài liệu kèm theo đơn, và lưu ý quy định về thời hạn ấn định của mỗi đồi tượng sở hữu công nghiệp, cụ thể: đối với sáng chế, thời gian ưu tiên là 12 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên, đối với kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu, thời gian được hưởng quyền ưu tiên là 6 tháng kể từ ngày nộp đơn đầu tiên.

Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc ưu tiên là hai nguyên tắc độc lập nhưng bổ sung cho nhau, giúp người nộp đơn tận dụng được lợi thế trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình không chỉ tại Việt Nam mà cả các quốc gia khác là thành viên của Công ước Paris.

3. Ưu và nhược điểm của nguyên tắc nộp đơn đầu tiên

3.1. Ưu điểm của nguyên tắc nộp đơn đầu tiên

Qua những phân tích trên, có thể thấy nguyên tắc nộp đơn đầu tiên là nguyên tắc cơ bản và quan trọng trong hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của quốc gia. “First to file” là công cụ đắc lực nhằm thúc đẩy việc đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ. Quy tắc này không cho phép sự chậm trễ trong việc nộp đơn nếu người nộp đơn mong muốn sáng chế, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp của mình được nhà nước bảo hộ.

Thứ hai, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên còn giúp nâng cao nhận thức của chủ thể quyền đối tượng sở hữu công nghiệp phát huy ý thức tự bảo vệ tài sản trí tuệ. Nguyên tắc này tạo ra một cuộc chạy đua giữa các cá nhân và tổ chức, trong đó mỗi bên đều cần tích cực tiến hành các thủ tục đăng ký nếu không muốn mất đi khoản đầu tư của mình.

Cuộc chạy đua giữa các cá nhân và tổ chức trong việc bảo vệ tài sản trí tuệ của mình.

Thứ ba, đơn giản và tiết kiệm. Để xác định người nộp đơn nào được cấp văn bằng bảo hộ, cơ quan đăng ký chỉ cần căn cứ vào ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên ghi trong quá trình nộp đơn. Ngược lại, nguyên tắc “sử dụng đầu tiên” (first-to-use) đòi hỏi chủ sở hữu chứng minh việc sử dụng nhãn hiệu trên thực tế bằng cách thu thập và nộp các tài liệu cần thiết, việc này sẽ phát sinh thời gian và chi phí không nhỏ. Nguyên tắc “phát minh đầu tiên” cấp văn bằng cho người đầu tiên phát minh ra sáng chế chứ không phải người đầu tiên nộp đơn tại cơ quan đăng ký. Để chứng minh việc sáng chế đầu tiên cũng là một thủ tục tốn kém thời gian và tiền bạc. Tại Mỹ, khi có nhiều người nộp đơn đăng ký cùng một sáng chế, các bên có thể phải tham dự phiên điều trần tại Hội đồng kháng nghị và can thiệp của Văn phòng Sáng chế Hoa Kỳ (USPTO).

3.2. Nhược điểm của nguyên tắc nộp đơn đầu tiên

Thứ nhất, lợi dụng sự thuận lợi của nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, nhiều người đã chiếm đoạt tài sản trí tuệ của người khác. Hành vi này là phổ biến nhất đối với nhãn hiệu. Những nhãn hiệu bị chiếm đoạt thường là những nhãn hiệu nổi tiếng đã có giá trị trên thị trường. Đặc biệt là những thương hiệu đã có tên tuổi ở nước ngoài nhưng lại chưa được đăng ký tại nước sở tại. Khi một nhãn hiệu bị đăng ký chiếm đoạt, người sử dụng nhãn hiệu đó thường sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh không lành mạnh hoặc phải trả một khoản tiền để chuộc lại nhãn hiệu đó.

Ngoài ra, việc lạm dụng nguyên tắc “nộp đơn đầu tiên” dẫn đến nạn đầu cơ nhãn hiệu. Đầu cơ nhãn hiệu với dụng ý xấu được hiểu là hành vi nộp nhiều đơn đăng ký các nhãn hiệu người khác chưa đăng ký, mặc dù bản thân cá nhân, tố chức đó không có hoạt động kinh doanh, sản xuất nhãn hiệu này hòng trục lợi bất chính. Không ít các trường hợp sau khi đăng ký thành công nhãn hiệu của người khác, bên đầu cơ nhãn hiệu quay lại yêu cầu chủ nhãn hiệu đích thực mua lại nhãn hiệu với mức giá không tưởng, thậm chí gây áp lực bằng cách yêu cầu cơ quan thực thi bắt giữ hàng hóa của chủ nhãn hiệu đích thực. Các cuộc tranh chấp pháp lý về nhãn hiệu không chỉ tiêu tốn nguồn lực tài chính, thời gian và thậm chí cả cơ hội kinh doanh, phát triển thị trường của doanh nghiệp.

Trước tình trạng này, pháp luật đã có các quy định về hủy bỏ hiệu lực văn bằng do không được sử dụng, phản đối cấp văn bằng cho đơn đăng ký không trung thực và các quy định khác. Vậy khi phát hiện ra nhãn hiệu của mình bị đăng ký bởi một bên khác, nếu nhãn hiệu đó chưa được cấp văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu có thể tiến hành nộp đơn phản đối yêu cầu không cấp văn bằng cho đơn đăng ký đó. Nếu nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ cho bên khác, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ phải nộp yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu. Tuy nhiên, để tránh trường hợp bị đăng ký trên cơ sở thiếu trung thực và quá trình phản đối/huỷ bỏ tốn kém cả thời gian, tiền bạc, chủ sở hữu nhãn hiệu cần tiến hành đăng ký sớm nhất có thể, đồng thời chú trọng về các điều khoản bảo mật thông tin trong quá trình kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu của mình.

Kết

Đăng ký sở hữu công nghiệp tại Việt Nam là thủ tục đơn giản và không quá tốn kém, tạo điều kiện dễ dàng cho chủ nhãn hiệu đăng ký xác lập quyền sở hữu cho tài sản trí tuệ của họ tại Việt Nam. Với bối cảnh bùng nổ các tranh chấp sở hữu trí tuệ như hiện nay và đặc biệt nạn đánh cắp tài sản trí tuệ của người khác ngày một tinh vi, cá nhân/tổ chức nên đăng ký tài sản trí tuệ của mình tại Cơ quan nhà nước sớm nhất có thể để tránh viễn các rủi ro pháp lý về sau.

 

 

CHÚNG TÔI LUÔN TƯ VẤN TẬN TÂM, TẬN TÌNH, CHU ĐÁO BẰNG SỰ CHÂN THÀNH NHẤT cho việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu cũng như đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ khác, xin hãy lên hệ với chúng tôi:

CÔNG TY INNETCO – HOÀNG PHÚC

Số 50, ngõ 210 phố Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, TP. Hà Nội

ĐT: 0963 595 787; E-mai: info@innetcoip.com; Website: innetcoip.com

 

Chúng tôi hi vọng sẽ có cơ hội hợp tác và làm hài lòng các yêu cầu của bạn với phương châm “Khách hàng là Người nhà!”.

Trân trọng!

LG. Vũ Ngọc Mai

 

Trả lời